Trong bối cảnh các bệnh truyền nhiễm mùa hè luôn tiềm ẩn nguy cơ gia tăng, việc nâng cao nhận thức của người dân về nguyên nhân, đường lây truyền cũng như các biện pháp phòng bệnh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Theo các chuyên gia y tế, viêm não vi rút không phải là một bệnh do một loại vi rút duy nhất gây ra mà là hội chứng bệnh lý do nhiều loại vi rút khác nhau gây nên. Người mắc bệnh thường khởi phát với sốt cao, đau đầu dữ dội, buồn nôn, nôn, sau đó nhanh chóng xuất hiện các biểu hiện tổn thương hệ thần kinh trung ương như cứng gáy, lú lẫn, mất định hướng, thay đổi hành vi, rối loạn ngôn ngữ, co giật, liệt hoặc hôn mê.
Trẻ nhỏ và người cao tuổi là những đối tượng có nguy cơ cao diễn biến nặng, dễ gặp biến chứng và có tỷ lệ tử vong cao hơn các nhóm tuổi khác. Đáng lo ngại hơn, nhiều trường hợp dù được cứu sống vẫn phải mang theo các di chứng thần kinh kéo dài như động kinh, giảm trí nhớ, chậm phát triển trí tuệ hoặc rối loạn vận động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống.
Tại Việt Nam, nhiều loại vi rút có thể gây viêm não như nhóm vi rút Arbo, trong đó có vi rút viêm não Nhật Bản; vi rút Herpes; các vi rút đường ruột như Enterovirus 71; vi rút sởi, quai bị và nhiều tác nhân khác. Do các biểu hiện lâm sàng giữa các loại vi rút khá giống nhau nên việc xác định chính xác nguyên nhân chủ yếu phải dựa vào các xét nghiệm chuyên sâu. Điều này cũng đồng nghĩa với việc viêm não Nhật Bản chỉ là một trong số nhiều nguyên nhân gây bệnh viêm não vi rút.
Theo PGS.TS. Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng - Bộ Y tế, trước đây, viêm não Nhật Bản từng là nguyên nhân hàng đầu gây viêm não vi rút tại nước ta. Năm 1995, bệnh chiếm tới hơn 60% tổng số trường hợp viêm não vi rút. Tuy nhiên, từ khi vắc xin viêm não Nhật Bản được đưa vào Chương trình Tiêm chủng mở rộng từ năm 1997 và từng bước triển khai trên phạm vi cả nước, số mắc đã giảm rõ rệt. Hiện nay, viêm não Nhật Bản chỉ còn chiếm khoảng 10 - 15% số trường hợp viêm não vi rút.
Mặc dù số mắc đã giảm, viêm não Nhật Bản vẫn là bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm. Bệnh do vi rút viêm não Nhật Bản gây ra, làm tổn thương trực tiếp hệ thần kinh trung ương và chủ yếu gặp ở trẻ em dưới 15 tuổi. Người bệnh thường khởi phát đột ngột với sốt cao, đau đầu, nôn nhiều, sau đó xuất hiện rối loạn ý thức ở nhiều mức độ từ vật vã, mê sảng, lú lẫn đến hôn mê, kèm theo co giật hoặc liệt. Tỷ lệ tử vong có thể lên tới 10 - 20%, trong khi khoảng một nửa số người khỏi bệnh phải đối mặt với các di chứng thần kinh kéo dài.
Theo PGS.TS. Trần Đắc Phu, bệnh được ghi nhận lần đầu tiên tại Nhật Bản sau một đợt dịch lớn với số người mắc và tử vong rất cao. Đến năm 1935, các nhà khoa học Nhật Bản đã phân lập được vi rút gây bệnh và từ đó bệnh được đặt tên là viêm não Nhật Bản. Hiện nay, bệnh lưu hành tại nhiều quốc gia châu Á như Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Philippines, cùng nhiều nước Đông Nam Á. Đây đều là những khu vực có khí hậu nóng ẩm, lượng mưa lớn, phát triển nông nghiệp lúa nước và chăn nuôi gia súc, tạo điều kiện thuận lợi cho vi rút lưu hành trong tự nhiên.
Ở nước ta, ca bệnh viêm não Nhật Bản đầu tiên được ghi nhận từ năm 1952. Bệnh lưu hành trên phạm vi cả nước nhưng tập trung nhiều tại các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ, nơi có diện tích trồng lúa lớn kết hợp chăn nuôi lợn. Trong quá trình truyền bệnh, các loài chim hoang dã là nguồn chứa vi rút trong tự nhiên, còn lợn được coi là ổ chứa quan trọng nhất ở khu vực dân cư do tỷ lệ nhiễm cao và lượng vi rút trong máu đủ để truyền sang muỗi.
Sau khi hút máu động vật nhiễm vi rút, muỗi Culex, đặc biệt là hai loài Culex tritaeniorhynchus và Culex vishnui sẽ truyền mầm bệnh sang người qua vết đốt. Điều đáng lưu ý là viêm não Nhật Bản không lây trực tiếp từ người sang người, vì vậy việc tiếp xúc, ăn uống hoặc sinh hoạt chung với người bệnh không làm lây truyền bệnh.
Hàng năm, bệnh có thể xuất hiện quanh năm nhưng thường gia tăng từ tháng 5 đến tháng 7, khi thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều tạo điều kiện cho muỗi sinh sản mạnh. Đây cũng là thời điểm nhiều loại chim di trú mang theo mầm bệnh, góp phần duy trì chu trình lưu hành của vi rút trong tự nhiên.
Ngành Y tế khuyến cáo, phòng bệnh luôn là giải pháp hiệu quả nhất đối với viêm não vi rút nói chung và viêm não Nhật Bản nói riêng. Đối với các bệnh do vi rút lây truyền qua muỗi, người dân cần chủ động thực hiện các biện pháp phòng chống muỗi đốt như ngủ màn kể cả ban ngày, mặc quần áo dài tay khi làm việc ngoài trời, sử dụng các chế phẩm xua muỗi, đồng thời thường xuyên vệ sinh môi trường, phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh, đậy kín các dụng cụ chứa nước, loại bỏ các vật dụng có khả năng đọng nước để hạn chế nơi sinh sản của muỗi.
Đối với các vi rút lây qua đường hô hấp như sởi, quai bị hay Herpes, cần hạn chế tiếp xúc với người bệnh, đeo khẩu trang khi chăm sóc người mắc bệnh và chủ động tiêm vắc xin phòng bệnh. Trong khi đó, với các vi rút đường tiêu hóa như Enterovirus, việc rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, thực hiện ăn chín, uống sôi là những biện pháp đơn giản nhưng mang lại hiệu quả phòng bệnh rất cao.
Riêng đối với viêm não Nhật Bản, tiêm vắc xin vẫn là biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất. Trẻ cần được tiêm đủ ba mũi cơ bản theo Chương trình Tiêm chủng mở rộng: mũi đầu khi đủ 12 tháng tuổi, mũi thứ hai sau mũi đầu từ 1 - 2 tuần, mũi thứ ba sau mũi thứ hai một năm và tiêm nhắc lại mỗi 3 - 4 năm cho đến khi trên 15 tuổi.
Hiện nay, vắc xin viêm não Nhật Bản được triển khai miễn phí trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng cho trẻ từ 1 đến 5 tuổi trên phạm vi cả nước. Thực tế cho thấy, chỉ khi được tiêm đủ các mũi theo khuyến cáo, vắc xin mới đạt hiệu quả bảo vệ cao và góp phần hình thành miễn dịch cộng đồng.
Bên cạnh đó, mỗi gia đình cần duy trì vệ sinh môi trường sống sạch sẽ, thường xuyên diệt muỗi, diệt lăng quăng, bọ gậy, vệ sinh chuồng trại chăn nuôi và nên bố trí chuồng gia súc cách xa nhà ở. Khi trẻ hoặc người lớn xuất hiện các dấu hiệu như sốt cao, đau đầu dữ dội, nôn nhiều, co giật, ngủ li bì hoặc có các biểu hiện bất thường về thần kinh, cần đưa ngay đến cơ sở y tế để được chẩn đoán và điều trị kịp thời, hạn chế tối đa nguy cơ tử vong và di chứng.
Trong bối cảnh mùa hè luôn tiềm ẩn nguy cơ gia tăng các bệnh truyền nhiễm, mỗi người dân cần chủ động thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng bệnh, đặc biệt là đưa trẻ đi tiêm chủng đúng lịch và phối hợp tích cực với ngành Y tế trong các hoạt động phòng, chống dịch tại cộng đồng. Sự chủ động của mỗi gia đình không chỉ góp phần bảo vệ sức khỏe cho bản thân mà còn là nền tảng quan trọng để xây dựng cộng đồng an toàn trước các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.
CDC Hà Nội